Trong diễn ngôn về văn hóa và phát triển ở Việt Nam những thập
kỷ gần đây, bên cạnh “giữ gìn và phát huy văn hoá Việt Nam đậm đà bản
sắc dân tộc”, thì “văn hóa là mục tiêu và động lực của phát triển” đã
trở thành một khẩu hiệu quen thuộc. Nó quen thuộc đến mức ít khi người
ta đặt câu hỏi nó thực sự có ý nghĩa gì và thể hiện ra sao trong đời
sống thực tế. Có thể thấy, “phát triển” dường như đang được số đông đo
đếm bằng sự tăng trưởng kinh tế, tốc độ đô thị hóa và hiện đại hóa, bằng
sự chiếm lĩnh của chủ nghĩa tiêu thụ cũng như ảnh xạ của toàn cầu hóa
trên mọi phương diện. Còn văn hóa thì được đo đếm bằng gì?
Trong
các diễn ngôn chính sách, văn hóa thường bao gồm văn hóa nghệ thuật,
biểu diễn văn hóa, nghi lễ, lối sống (một cách trừu tượng) và bảo tồn di
sản. Trên báo chí truyền thông, mục văn hóa thường bao gồm những chủ đề
liên quan đến biểu diễn nghệ thuật hay những chuyện lượm lặt trong giới
“showbiz”. Trong khi đó, việc người người nhà nhà được khuyến khích
phấn đấu để đạt những danh hiệu “gia đình văn hóa”, “xã văn hóa”, “làng
văn hóa” ...cho thấy thuật ngữ văn hóa bỗng nhiên trở nên một thứ “phong
trào” bề nổi mà ai cũng biết chỉ mang tính hình thức!
Nói một cách công bằng, các chính sách văn hóa chú trọng đến
“bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc” đã tạo điều kiện thuận lợi cho các
hoạt động khôi phục văn hóa truyền thống. Số lượng lễ hội mỗi năm một
tăng, cả việc khôi phục lễ hội truyền thống cũng như tạo dựng nên các lễ
hội mới. Khát vọng tâm linh được thỏa mãn khi các thực hành nghi lễ tôn
giáo được bật đèn xanh sau một thời gian dài cấm đoán. Nhưng các lễ
hội, festival, sự kiện mang màu sắc thương mại hóa và cầu tiền tài, danh
vọng, cũng trở nên ngày càng nhiều. Càng “phát triển” thì dường như xã
hội càng bức xúc bởi tin tức về những ngôi chùa, mái đình bị biến dạng
thành một thứ nửa cổ nửa kim sau khi trùng tu; đồng thời nhận ra quá
trình đô thị hóa cũng đồng nghĩa với sự mất đi các làng hoa, làng nông
nghiệp truyền thống; sự tấn công ồ ạt dưới cái mác ”khoa học” của tri
thức phương Tây đang làm lãng quên các tri thức bản địa vốn nuôi dưỡng
con người trong suốt quá khứ...vv. Và bỗng một ngày, người ta lại cùng
nhau ngồi hoài cổ, thèm lắm cái cái hương vị ngày Tết khi cả nhà quây
quần gói bánh chưng xanh, thịt mỡ dưa hành (mà nay với công nghệ gói
bánh chưng siêu tốc và thịt lợn siêu nạc, những mơ mộng đó bỗng trở nên
xa xỉ!).
Nói đến văn hóa không thể không nói đến di sản. Thật
đáng mừng vì những thay đổi nhận thức về giá trị di sản và truyền thống
văn hoá ở Việt Nam đã tạo ra nguồn lực xã hội trong việc bảo vệ và bảo
tồn di sản văn hoá. Tuy nhiên, quan niệm bảo tồn theo cách bảo tàng hóa
hoặc sân khấu hóa, tách thực hành văn hóa ra khỏi môi trường sống của
nó, khiến các dạng thức văn hóa được bảo tồn trở nên “màu mè”, hình
thức, thiếu sức sống bền vững trong đời sống xã hội; trong khi chủ
trương “bảo tồn có lựa chọn” lại áp đặt quyền được quyết định số mệnh
cái gì được bảo tồn, cái gì phải loại bỏ dưới cái nhãn “lạc hậu”, “hủ
tục”. Mặt khác, mốt “di sản hóa” văn hóa, bệnh “sính di sản” hay
“Unesco hóa” (mà nhà nghiên cứu người Hà Lan Oscar Salemink chỉ ra trong
Hội thảo Việt Nam học gần đây) không những bức tử vẻ đẹp của di sản với
việc khai thác quá đà cho du lịch, mà còn làm triệt tiêu sự đa dạng văn
hóa (đơn cử như quyết nghị của UBND tỉnh Quảng Ninh buộc 500 con tàu
trên vịnh Hạ Long phải sơn màu trắng “đồng phục” cho xứng tầm kỳ quan
thế giới).
Điều đáng nói hơn, những chủ thể văn hóa – những
người dân chăm nom và bảo vệ di sản trong suốt quá khứ, bỗng nhiên bị
gạt ra ngoài lề, nhường chỗ cho “Ban quản lý”, khi di tích được công
nhận là di sản quốc tế (như trường hợp di sản đền Hùng và nhiều di tích
khác). Câu chuyện về đền Trần cũng là một ví dụ như vậy. Nếu như trước
khi kinh tế thị trường bùng nổ và các hoạt động tôn giáo còn chưa được
khuyến khích, đền Trần còn là một ngôi đền chủ yếu của dân địa phương,
và họ chính là những chủ thể được sở hữu những lá ấn vốn nhằm mục đích
trừ tà ma (với những sự tích liên quan đến quyền năng trừ tà ma của Đức
Thánh Trần). Từ khi phong trào “phát ấn” bùng nổ (do sáng kiến của những
người làm quản lý văn hóa), được cổ súy thêm bởi sự xuất hiện của lãnh
đạo nhà nước trong lễ khai ấn, những chiếc ấn được mang thêm ý nghĩa mới
về sự ‘thăng quan tiến chức’. Và lúc này, đương nhiên là “các chủ thể
văn hóa” phải chen lấn bên ngoài hàng rào để đợi, trong khi không gian
văn hóa lẽ ra là của người dân địa phương, bỗng nhiên trở thành nơi dành
cho những người có địa vị xã hội và đang trên đường thăng tiến.
Sự
mất mát của chủ thể văn hóa là câu chuyện tưởng như đã cũ. Các chủ nhân
đích thực của văn hóa đang bị dần biến thành khách thể - những người
đến xem việc “biểu diễn văn hóa” dưới sự dàn dựng của đạo diễn nghệ
thuật. Người dân trong cộng đồng hoặc trở thành các diễn viên, hoặc trở
thành khán giả. ‘Văn hóa’ đã không còn là của cộng đồng nữa. Các chủ thể
văn hóa không còn quyền đối với chính nền văn hóa của mình. Vậy văn hóa
là của ai, và để cho ai? Văn hóa nào sẽ tạo nên động lực cho sự phát
triển nếu nó không từ gốc rễ cộng đồng?
Cũng đã có người tranh
luận rằng, bởi phát triển gắn liền với sự tăng trưởng kinh tế, nên đầu
tư vào công nghiệp văn hóa (như phim, ảnh, in ấn, băng đĩa) chính là một
cách biến văn hóa trở thành động lực cho sự phát triển. Nhưng nếu mục
tiêu phát triển đạt được mà những chủ thể văn hóa trở nên bơ vơ, ngơ
ngác trên chính không gian của họ, thì có lẽ, văn hóa cũng không còn tồn
tại! Có lẽ đây chính là một nguyên nhân quan trọng của sự hỗn loạn xã
hội, suy giảm đạo đức vì các giá trị tốt đẹp nhất của văn hóa bị xói mòn
khi văn hóa đã bị “bật gốc”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét